Hôm 12/6, tại chùa Đại Báo Ân, thành phố Nam Kinh của Trung Quốc, một lễ rước xá lợi Phật long trọng đã được tổ chức. Các phương tiện truyền thông Trung Quốc đều đưa tin đây là phần hộp sọ của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni. Nhiều người còn cho rằng đây là phần hộp sọ duy nhất của Phật tổ còn lại trên thế giới. Tuy nhiên, căn cứ những sử liệu chép lại thì điều này chưa có cơ sở vững chắc.
Theo truyền thuyết cách nay 2.500 năm, trải qua 49 năm thuyết giáo, Phật tổ Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) đã nhập cõ niết bàn tại rừng Ta la song thọ vào ngày Rằm tháng Hai âm lịch, thọ 81 tuổi.
Sau khi Ngài mất, các đệ tử đã thực hiện lễ trà tỳ (hỏa táng). Khi lửa tàn, người ta tìm thấy trong tro tất cả 84.000 xá lợi của đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni.
Tất cả số xá lợi này đã được vua Ấn Độ thời bấy giờ là Asoka (A Dục) tập hợp lại, cất giữ trong 84.000 chiếc hộp hình tháp và gửi đến các khu vực khác nhau trên khắp thế giới. Mỗi chiếc hộp được thờ trong một ngôi bảo tháp có tên gọi Asoka.
Riêng Trung Quốc có 19 chiếc hộp như vậy. Chiếc hộp đựng xá lợi được cho là phần xương sọ của Phật tổ được phát hiện vào năm 2008 khi Trung Quốc tiến hành khai quật phần di chỉ của chùa Đại Báo Ân tại thành phố Nam Kinh được xây dựng từ đời Tống (960-1279). Chiếc hộp này có độ tuổi 1.000 năm.
Như vậy, với 84.000 xá lợi Phật tổ trên khắp thế giới, trong đó có cả những xá lợi phần đầu, thì xá lợi xương sọ của Phật tổ ở Trung Quốc hiện nay có thể không phải là duy nhất.
Theo truyền thuyết cách nay 2.500 năm, trải qua 49 năm thuyết giáo, Phật tổ Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) đã nhập cõ niết bàn tại rừng Ta la song thọ vào ngày Rằm tháng Hai âm lịch, thọ 81 tuổi.
Sau khi Ngài mất, các đệ tử đã thực hiện lễ trà tỳ (hỏa táng). Khi lửa tàn, người ta tìm thấy trong tro tất cả 84.000 xá lợi của đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni.
Tất cả số xá lợi này đã được vua Ấn Độ thời bấy giờ là Asoka (A Dục) tập hợp lại, cất giữ trong 84.000 chiếc hộp hình tháp và gửi đến các khu vực khác nhau trên khắp thế giới. Mỗi chiếc hộp được thờ trong một ngôi bảo tháp có tên gọi Asoka.
Riêng Trung Quốc có 19 chiếc hộp như vậy. Chiếc hộp đựng xá lợi được cho là phần xương sọ của Phật tổ được phát hiện vào năm 2008 khi Trung Quốc tiến hành khai quật phần di chỉ của chùa Đại Báo Ân tại thành phố Nam Kinh được xây dựng từ đời Tống (960-1279). Chiếc hộp này có độ tuổi 1.000 năm.
Như vậy, với 84.000 xá lợi Phật tổ trên khắp thế giới, trong đó có cả những xá lợi phần đầu, thì xá lợi xương sọ của Phật tổ ở Trung Quốc hiện nay có thể không phải là duy nhất.
Những hình ảnh độc đáo về xá lợi Phật Thích Ca Mâu Ni:
| Chiếc hộp được phát hiện ngày 22/10/2008 tại khu di chỉ Đại Báo Ân, Nam Kinh, Trung Quốc được cho là lưu giữ xá lợi xương sọ của Phật tổ |
| Xá lợi đầu 7 màu của Phật Thích Ca Mâu Ni |
| Xá lợi não của Phật tổ |
| Xá lợi huyết của Phật tổ |
| Xá lợi xương sọ của Phật tổ ở Nam Kinh, Trung Quốc |
nguồn (bee.net.vn)
Nhắc đến Trần Nhân Tông, là người Việt Nam, ai trong chúng ta cũng biết đó là ông vua anh hùng đã hai lần đánh thắng cuộc xâm lược của Nguyên Mông, đạo quân bách chiến bách thắng từ Á sang Âu hồi ấy. Nhắc đến Trần Nhân Tông là nhắc đến thời đại cực thịnh của nhà Trần, khi chung quanh ông là những khuôn mặt đã tạo ra cái thời đại lịch sử vẻ vang ấy: Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trần Bình Trọng, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, Mạc Đỉnh Chi, Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Pháp Loa, Huyền Quang…
Và riêng với lịch sử đạo Phật Việt Nam, nhắc tới vua Nhân Tông là nhắc tới một trường hợp duy nhất sau Đức Thích Ca: một vị vua bỏ ngôi, xuất gia đắc đạo và trở thành Sơ Tổ của phái Thiền Trúc Lâm do người Việt Nam sáng lập, một cuộc đời biểu lộ cái sức sống diệu kỳ của đạo Phật trong mọi hoàn cảnh đời sống. Vua đã chứng minh được bằng chính cuộc đời mình đạo Phật là cái gì sống động, rằng đối với người hiểu biết, thì đạo Phật có mặt trong giờ phút chiến tranh dầu sôi lửa bỏng, đạo Phật có mặt trong lúc an nhàn nhìn ngắm buổi chiều quê (bài thơ Thiên Trường văn vọng), đạo Phật trên con đường đi khắp thôn làng để giảng kinh Thập Thiện, đạo Phật có mặt trong tất cả các mối tương quan vua tôi, cha con, chồng vợ, người giữ nước và kẻ xâm lăng…
Khi nói rằng đạo Phật là cái trục cốt lõi quanh đó cuộc đời Trần Nhân Tông xoay chuyển: khi thì ứng phó với hoàn cảnh này, khi đáp ứng hoàn cảnh nọ, không phải là đề cao quá mức ảnh hưởng của đạo Phật với nhà vua Trần Nhân Tông, không phải là “thấy sang bắt quàng làm họ”. Ông nội vua là Trần Thái Tông, người viết nên bản văn Thiền Khóa Hư Lục; ngay từ thiếu niên vua đã gặp Thượng sĩ Tuệ Trung và thờ làm thầy, vua cũng đã có ý định nhường ngôi cho em để xuất gia; về cuối đời khi đã hoàn thành bổn phận trị nước, vua làm lễ xuất gia ngay giữa triều đình, trở thành Sơ Tổ phái Thiền Trúc Lâm.
Vì thế nghiên cứu một vài sự việc trong cuộc đời vua Trần Nhân Tông chính là tìm hiểu xem đạo Phật đã biểu lộ nơi một con người trước những hoàn cảnh khác biệt nhau như thế nào. Sau đây chúng ta xét qua vài sự việc ấy mà không theo thứ tự lịch sử.
Hội nghị Diên Hồng: Sau hội nghị quân sự Bình Than, vua triệu tập bô lão khắp nước dự tiệc ở điện Diên Hồng để trưng cầu ý kiến nên hòa hay nên đánh. Tất cả đều đồng lòng: Xin đánh. Năm đó vua 27 tuổi. Ở đây ta thấy sự biểu lộ của tinh thần vô ngã và bình đẳng của đạo Phật. Vô ngã nghĩa là không cho mình là nhất, ý mình là ý trời, mặc dù đang ở ngôi vua, mà trước sự an nguy, tồn vong của đất nước, trước sự có thể thiệt hại lớn lao về sinh mạng và của cải của mọi người, vua không tự mình quyết định, mà xin ý kiến của toàn dân. Bình đẳng là không phân biệt địa vị, tuổi tác, dòng tộc, quyền lợi mà cùng chung nhau tìm ra giải pháp. Có thể nói hội nghị Diên Hồng là sự chiến thắng của tinh thần dân chủ, và sự chiến thắng của lòng dân ấy đã tạo ra chiến thắng quân sự sau đó, là lần chiến đấu gian khổ, nguy ngập nhất.
Gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm, tạo nên nền hòa bình Chiêm Việt lâu dài: Năm 1301 vua đi thăm Chiêm Thành, sau khi đã xuất gia, vua hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Vua Chiêm dâng hai châu Ô, Lý (Thuận, Hóa tức Bình Trị Thiên) làm lễ cưới. Sự việc này dẫn đến một nền hòa bình ở phương Nam giữa Chiêm và Việt. Về sau, bằng tình cảm đơn giản của mình, dân gian thương tiếc cho công chúa Huyền Trân (Tiếc thay cây quế giữ rừng, Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo), người thì bảo đây là hành động chính trị để có thêm hai châu Thuận, hóa. Xét sâu xa hơn, với một người thấm nhuần đạo Phật từ nhỏ, có phải rằng đây là kết quả của một cái nhìn đạo Phật: tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, bất kể màu da, chủng tộc, ngôn ngữ. Có phải rằng đây là hành động của một người đã xóa bỏ nơi mình đầu óc phân biệt chủng tộc, đã nhìn thấy mọi người đều đáng trân trọng, một người đã xem sự hòa bình và an toàn của mọi sinh vật là quan trọng hơn hết?
Trước cái chết của Toa Đô: Năm 1285 là năm nguy khốn của nhà Trần, thế giặc cả thủy lẫn bộ mạnh nhất trong ba lần xâm lăng, triều đình chạy vào Thanh Hóa, phía Bắc Thoát Hoan đánh xuống, phía Nam Toa Đô đánh ra, thế nước như chỉ mành treo chuông, Trần Hưng Đạo phải nói: xin chém đầu tôi rồi hãy hàng. Tháng 5 quân ta phản công, Toa Đô bị chém ở Tây Kết. Khi những tang tóc điêu linh còn sờ sờ trước mắt – Trần Bình Trọng không chịu dụ hàng, “thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc”, bị xử chém – Thăng Long bị giặc phá phách hoang tàn, thế mà trước thủ cấp của tướng giặc Toa Đô, vua thương hại nói: “Người làm tôi phải như thế này”, rồi cởi áo ngự đắp lên cho chôn cất. Trong thời phong kiến Trung cổ, một cử chỉ như thế đang lúc chiến tranh quả là hiếm thấy. Đó là một hành động phát lộ từ cội nguồn Từ Bi Hỷ Xả, tạo thành nhân cách đạo Phật. Từ bi trước cái chết của một con người, Hỷ xả trước cái vô minh của tham vọng vô nghĩa của một đồng loại. Cũng với Từ Bi Hỷ Xả đó mà vua cho trả hết tù binh sau khi đã thích chữ trên trán
Bao dung với Trần Khánh Dư: Trần Khánh Dư tánh tình có phần thô thiển có chiến công được phong là Phiêu Kỵ Tướng quân – một chức chỉ dành phong cho các hoàng tử – Sau lại dan díu với công chúa Thiên Thụy. Khánh Dư bị án “phải đánh chết”, nhưng vua dặn “chớ đánh chết” rồi lột bỏ chức tước, sản nghiệp về làm nghề bán than ở Chí Linh. Sau, trong hội nghị Bình Than ở Chí Linh, vua cho phục chức làm phó tướng, mà vẫn giữ nguyên án cũ, nhưng cho lập công chuộc tội. Khánh Dư thua trận nhiều lần, vua cũng kiên nhẫn không hỏi tội như các tướng khác yêu cầu. Mãi đến năm 1288, Khánh Dư mới phá được đoàn thuyền tiếp vận của Trương Văn Hổ, góp phần quyết định cho cuộc kháng chiến thắng lợi thứ 3. Về sau trở thành một tướng giỏi đời Trần.
Ở đây, chúng ta nhớ lại lời của Thiền Sư Ngũ Tổ Pháp Diễn: “Người xưa thích nghe lỗi mình, vui với sự làm thiện, kiên nhẫn bao dung kẻ hoang sơ thô lỗ, nhân hậu che điều xấu lỗi cho người, khiêm nhường giao tiếp vói bạn hữu, siêng năng cứu giúp tất cả, chẳng vì được mất mà có hai lòng, bởi thế mà quang minh càng lớn lao, chiếu soi kim cổ”.
Qua sự bao dung với Trần Khánh Dư, qua việc cho đốt hết tài liệu thơ từ có thể tố cáo những người có liên hệ với giặc trong thời chiến tranh mà không hề xem qua, phải chăng vua đã luôn luôn tin tưởng rằng cái tốt cái thiện mới là khuôn mặt chân thường của con người, còn cái ác cái xấu chỉ là vô thường, tạm bợ ? Có phải vua đã luôn luôn có niềm tin vĩnh cửu của Kinh Pháp Hoa: “Tất cả chúng sanh đầu bất kỳ hạng loại gì rồi cũng sẽ thành Phật”.
Xả bỏ ngôi vua để xuất gia và sống cuộc đời vì tất cả mọi người: Năm 41 tuổi, vua xuất gia ở triều đình, lập ra phái Thiền Trúc Lâm ở núi Yên Tử, từ đây vua tu hạnh đầu đà, truyền bá đạo Phật khắp hang cùng ngõ hẻm cho đến tận Chiêm Thành, đồng thời vẫn làm cố vấn cho con là vua Trần Anh Tông. Có lẽ đây là vị vua độc nhất trong lịch sử Đông Tây đã làm một hành động giống như Đức Phật Thích Ca. Sự xả bỏ ấy là sự xả bỏ của một người đã thấy thật tướng của tất cả các pháp, đã giải thoát, tự tại với tất cả, như chương thứ 42, Đạt Thế Tri Huyễn của Kinh Bốn Mươi Hai Chương ghi nhận: “Đức Phật nói: Ta xem thấy ngôi vua chúa như bụi qua khe hở, thấy châu báu vàng ngọc như ngói đá, thấy gấm vóc lụa là như vải rách, thấy đại thiên thế giới như trái lật trong bàn tay, thấy hồ nước A Nậu như thau rửa chân bẩn. Ta xem thấy những món phương tiện như thành báu huyển hóa, thấy vô thượng thừa như vàng ngọc lụa là trong mộng, thấy Phật đạo như hoa trước mắt, thấy thiền như cột trụ núi Tu Di, thấy Niết Bàn như ngày đêm thức tỉnh, thấy chánh kiến tà kiến như sáu con rồng lượn múa, thấy bình đẳng như thật địa nhất chơn, thấy sự hưng hóa như cây cỏ bốn mùa”.
Đó là cái thấy của Trần Nhân Tông khi bỏ ngôi vua để thành một Thiền sư giải thoát, như lời nói cuối cùng của vua: “Tất cả pháp không sanh, tất cả pháp không diệt. Nếu thấy hiểu như thế. Chư Phật thường hiện tiền”.
Nhưng sự xuất gia của vua không phải là thái độ tiêu cực “bỏ đời” mà chính là sự hoàn thành ở mức độ cao nhất cái bổn phận trách nhiệm của một con người: tự giác, giác tha. Từ đây, với tư cách là một ông vua bỏ ngôi, một vị Thượng hoàng, một vị Tổ đầu tiên của Thiền Trúc Lâm, đồng thời là một Quốc sư, vua một thân một mình với hạnh đầu đà đi khắp hang cùng ngõ hẻm để truyền bá Phật pháp. Sự xuất gia đó là thành tựu đẹp đẽ nhất, trong đó con người chính trị, con người thao lược, con người văn hóa, con người đạo đức kết hợp nơi một đỉnh cao: hoàn toàn sống vì mọi người, cho tất cả mọi người.
Để kết luận, khi nhắc lại cuộc đời Trần Nhân Tông là nhắc lại một con người đã thể hiện, đã sống đươc đạo Phật, đã biểu lộ cái Chân Thiện Mỹ ra giữa cuộc đời. Vua là bằng chứng nổi bật cho điều chúng ta thường nói: dùng cái chân lý “bất biến” của đạo Phật mà “tùy duyên” với mọi cảnh, bất biến để tùy duyên, tùy duyên mà bất biến. Đó là một cuộc đời “khế lý khế cơ”. Nơi vua những danh từ như bình đẳng, vô ngả, từ bi, hỷ xả, vị tha… những ý niệm như “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật”, “Giải thoát hiện tiền ngay trong đời sống”, “Phật pháp chẳng lìa thế gian pháp”, “Sanh tử tức Niết Bàn” không còn lý thuyết, mà danh từ đã biến thành thực tại, ý niệm trở thành thực tiễn, đó có phải là điều mà đạo Phật gọi là sự tu chứng?
Qua vua chúng ta thấy đạo Phật không bao giờ cạn nguồn. Đạo Phật là nguồn sống không bao giờ cạn, luôn luôn sẵn sàng cung ứng cho mọi hoàn cảnh sống, cho mọi cuộc đời, cho mọi biến thái phát triển của lịch sử. Vấn đề duy nhất còn lại là vấn đề của mỗi chúng ta: chúng ta vận dụng được đạo Phật vào cuộc đời, vào hoàn cảnh mình như thế nào?
Với riêng chúng ta, đạo Phật đã truyền vào từ trước cả Trung Hoa. Với gia sản khổng lồ của cha ông như thế, chúng ta đang và sẽ đóng góp được gì vào sự phát triển vật chất lẫn tinh thần của toàn bộ đất nước chúng ta?
Nguyễn Thế Đăng
Cây Vô Ưu có phải là hoa Ưu đàm không? Nếu không phải, thì tại sao Thái tử Tất Đạt Đa hạ sanh dưới gốc Vô ưu, mà ngày Đản sanh của Ngài lại lấy hoa Ưu đàm biểu tượng? Như vậy cây Vô Ưu là cây gì và hoa Ưu đàm là hoa nào?
Theo truyền thuyết trong kinh Phật, có một loài hoa gọi là Udumbara, viết theo mẫu devanāgarī : उदुम्बर . Udumbara có nghĩa là một loài hoa mang điềm lành từ Trời, và sự xuất hiện của hoa Udumbara là dấu hiệu cho biết Đức Chuyển Luân Thánh Vương đã đến, để lại Phật Pháp trong thế giới này.
उदुम्बर, Udumbara là biến cách của uḍumbara. Udumbara được phiên âm ra âm Hán Việt thành : Ưu đàm ba la, Ô đàm bát la, Uất đàm, Ưu đàm… Hoa Ưu đàm được người ta gọi bằng những tên khác nhau như : Ưu đàm bát hoa, Ưu đàm Bạt La Hoa, gọi tắt là Đàm hoa, hay Linh thụy hoa, Thụy ứng hoa, Không khởi hoa.
Theo kinh Pháp Hoa văn cú : "Ưu đàm là loại hoa thiêng, ba ngàn năm mới nở một lần, mỗi lần hoa nở thì có Đức Phật ra đời". Do đó, Hoa Ưu đàm thường được làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế của Đức Thế Tôn, mà trong một số kinh khác của nhà Phật có ghi như : Tạp A Hàm (26) | Đại Bát Nhả Ba La Mật Đa (171) | Kinh Hoa Nghiêm bản tân dịch (80)|Kinh Tô Yết Địa Tất La |Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (3) | Pháp Hoa Văn Cú (4) |Huyển Ứng Âm Nghĩa (21) |Kinh Đại Bát Niết Bàn | Kinh Pháp Hoa chương 2 và 27…
Bảng biến hóa thân từ của udumbara ở dạng nam tính :
| Nam tính | Số ít | Số hai | Số nhiều |
| Chủ cách | udumbaraḥ | udumbarau | udumbarāḥ |
| Hô cách | udumbara | udumbarau | udumbarāḥ |
| Cách trực bổ | udumbaram | udumbarau | udumbarān |
| Cách dụng cụ | udumbareṇa | udumbarābhyām | udumbaraiḥ |
| Cách gián bổ | udumbarāya | udumbarābhyām | udumbarebhyaḥ |
| Cách tách ly | udumbarāt | udumbarābhyām | udumbarebhyaḥ |
| Cách sở hữu | udumbarasya | udumbarayoḥ | udumbarāṇām |
| Cách vị trí | udumbare | udumbarayoḥ | udumbareṣu |
Ngoài ra còn có một cây mang tính biểu tượng quan trọng trong Phật học, đó là cây Ashok अशोक hay Saraca asoka. Aśoka, अशोक được ghép từ chữ a (tiền tố ngữ) và thân kép śoka. Thân từ thuộc từ thuộc tĩnh từ và có 3 dạng : Nam tính, trung tính, nữ tính. Aśokā có những nghĩa được biết như sau : Vô tư, không đau buồn, không gây ra ưu phiền.
शोक śoka có gốc từ động từ căn √ शुच् śuc. शोक śoka có những nghĩa được biết như sau : Đau buồn, buồn rầu, đau nhức.
Động từ căn √ शुच् śuc, là động từ thuộc nhóm 1, và nó có những nghĩa được biết như sau : Đốt cháy, thiêu hủy, nướng, phỏng, khóc, lo âu, buồn rầu, bị bồn chồn lo lắng, đau khổ vì vấn đề gì đó, than phiền về cái gì đó, hối tiếc, khóc thương cho cái gì đó.
Bảng biến hóa thân từ của śoka ở dạng nam tính :
| Nam tính | Số ít | Số hai | Số nhiều |
| Chủ cách | śokaḥ | śokau | śokāḥ |
| Hô cách | śoka | śokau | śokāḥ |
| Cách trực bổ | śokam | śokau | śokān |
| Cách dụng cụ | śokena | śokābhyām | śokaiḥ |
| Cách gián bổ | śokāya | śokābhyām | śokebhyaḥ |
| Cách tách ly | śokāt | śokābhyām | śokebhyaḥ |
| Cách sở hữu | śokasya | śokayoḥ | śokānām |
| Cách vị trí | śoke | śokayoḥ | śokeṣu |
Bảng biến hóa thân từ của aśoka ở dạng nam tính :
| Nam tính | Số ít | Số hai | Số nhiều |
| Chủ cách | aśokaḥ | aśokau | aśokāḥ |
| Hô cách | aśoka | aśokau | aśokāḥ |
| Cách trực bổ | aśokam | aśokau | aśokān |
| Cách dụng cụ | aśokena | aśokābhyām | aśokaiḥ |
| Cách gián bổ | aśokāya | aśokābhyām | aśokebhyaḥ |
| Cách tách ly | aśokāt | aśokābhyām | aśokebhyaḥ |
| Cách sở hữu | aśokasya | aśokayoḥ | aśokānām |
| Cách vị trí | aśoke | aśokayoḥ | aśokeṣu |
Bảng biến hóa thân từ của aśoka ở dạng trung tính :
| Trung tính | Số ít | Số hai | Số nhiều |
| Chủ cách | aśokam | aśoke | aśokāni |
| Hô cách | aśoka | aśoke | aśokāni |
| Cách trực bổ | aśokam | aśoke | aśokāni |
| Cách dụng cụ | aśokena | aśokābhyām | aśokaiḥ |
| Cách gián bổ | aśokāya | aśokābhyām | aśokebhyaḥ |
| Cách tách ly | aśokāt | aśokābhyām | aśokebhyaḥ |
| Cách sở hữu | aśokasya | aśokayoḥ | aśokānām |
| Cách vị trí | aśoke | aśokayoḥ | aśokeṣu |
Bảng biến hóa thân từ của aśokā ở dạng nữ tính :
| Nữ tính | Số ít | Số hai | Số nhiều |
| Chủ cách | aśokā | aśoke | aśokāḥ |
| Hô cách | aśoke | aśoke | aśokāḥ |
| Cách trực bổ | aśokām | aśoke | aśokāḥ |
| Cách dụng cụ | aśokayā | aśokābhyām | aśokābhiḥ |
| Cách gián bổ | aśokāyai | aśokābhyām | aśokābhyaḥ |
| Cách tách ly | aśokāyāḥ | aśokābhyām | aśokābhyaḥ |
| Cách sở hữu | aśokāyāḥ | aśokayoḥ | aśokānām |
| Cách vị trí | aśokāyām | aśokayoḥ | aśokāsu |
Cây Ashoka, Hán Việt phiên âm là : Vô Ưu Thọ, A thúc ca thọ, A thủ ca thọ.
Hoa Vô ưu gắn với điển tích Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni Buddha) trong lịch sử của nhân loại. Theo truyền thuyết của Phật học, Hoàng hậu Mahāmāyā cùng đoàn tuỳ tùng trên đường về nhà cha mẹ để chuẩn bị sanh con đầu lòng theo tập tục Ấn Độ cổ. Khi đi ngang qua vườn Lumbinī, लुम्बिनी, Hoàng hậu Mahāmāyā dừng lại để nghỉ ngơi và đi dạo ngoạn cảnh. Bà thấy có một cây hoa Vô ưu đang nở rộ, ngào ngạt hương thơm, bèn đưa tay vịn cành hoa. Ngay sau đó, dưới gốc cây này, bà trở dạ sinh Thái tử Siddhārtha Gautama, सिद्धार्थ गौतम. Người sáng lập ra Phật giáo sau này.
Hoa Vô Ưu là một trong những cây linh thiêng tại Ấn độ. Người Ấn còn gọi nó là Anganapriya, có nghĩa là : Thân thiết với phụ nữ, bởi vì theo tương truyền, loài cây này cũng cảm nhận được tình cảm của con người, cho nên khi được phụ nữ chăm sóc thì trổ hoa mau và rất nhiều.
Vẻ đẹp của cây Hoa Vô Ưu thường được người ta so sánh với các sắc đẹp mỹ miều của những người phụ nữ trẻ. Trong ngày lễ hội Dohada, các phụ nữ trang điểm rực rỡ, được mời đến chạm nhẹ vào cây bằng chân trái để giúp cây mau trổ hoa. Hội Xuân Asoka-pushpa Prachaayika cũng là dịp cho các thiếu nữ hái hoa Vô Ưu để cài trên mái tóc. Ngày lễ Ashoka Shasthi, có nhiều người phụ nữ thường ăn nụ và uống nước có ngâm hoa Vô Ưu, bởi vì họ tin rằng nhờ nước này mà họ sẽ bảo vệ được con cái. Cây Vô Ưu, là cây được dùng làm biểu tượng cho Tình Yêu, và là cây dâng tặng riêng cho Nữ Thần Tình Ái Kama Deva.
Trong huyền thoại Ramayana của Ấn giáo có ghi : "Trong thời gian bị lưu đày tại Lanka, Seeta đã bị Ravana lưu giữ tại AsokaVana, môt vườn cây Asoka, và khi bị ác thần Ravana nhiễu hại, Seeta đã trốn dưới cây Vô ưu và kháng cự thành công". Vì thế, Hoa Vô ưu rất được phụ nữ Ấn tôn trọng và xem như loại hoa quý để dâng cúng được thần Siva.
Cây Vô ưu là loại cây mọc tự nhiên ở các vùng khác nhau ở Ấn Độ. Nhưng ngày nay nó đang trở nên hiếm hơn trong môi trường sống tự nhiên, bởi vì sự lạm dụng lấy thân làm gỗ cứng quá nhiều. Tuy nhiên vẫn còn một số cây hoang dã, mà người ta tìm thấy được ở trung tâm chân đồi và các vùng phía đông của dãy Himalaya.
Cây Vô ưu có nguồn gốc tại Ấn Độ, Miến Điện, Mã Lai, Tích Lan, và thường được người ta trồng để làm cây cảnh và lấy hoa để cúng cho các vị thần linh. Sau này cây Vô ưu được trồng phổ biến nhiều nơi ở các nuớc Đông Nam Á, để lấy thân làm gỗ cứng. Ở Việt Nam, có người còn gọi Hoa Vô ưu là hoa Vàng anh.
Cây Vô ưu có tên thực vật học là Saraca Indica, Saraca asoca, Jonesia, Ashok, Sita Ashok, từ đồng nghĩa Saraca indica Linnaeus.
Phân loại khoa học [4] của Jonesia Ashok
Giới: Plantae
Nghành: Magnoliophyta
Hạng : Magnoliopsida
Bộ : Fabales
Họ : Caesalpinaceae
Chi: Saraca
Loài : S. Asoca
Cây Vô Ưu thuộc loại cây thân nhỏ, phát triễn tương đối chậm, có chiều cao từ 5- 20 m. Thân cây không gai và nhẵn, màu nâu, xám. Cành phân nhánh nhiều tạo thành tán, gần như tròn. Lá kép hình lông chim chẵn, với 4-6 cặp lá chét và có dạng gần như ngọn giáo thuôn, tù hay nhọn ở đầu, tròn ở gốc, dài 15-20 cm, rộng 5-7 cm, màu lục xậm, mặt trên bóng, mặt dưới nhạt hơn. Lá non màu hơi tím, xếp lại và buông thõng xuống.
Cây ra hoa từ tháng 2 cho đến tháng 5, Hoa màu đỏ cam, vàng cam, sau đó chuyển sang đỏ đậm, mọc thành ngù đặc ở nách lá. Hoa có màu sắc rực rỡ nhất, mùi thơm dịu rất mạnh vào buổi chiều tối. Trái thuộc loại quả đậu, màu đen, dài 9-25 cm, rộng chừng 4 cm, trong có 4 đến 8 hạt, hình cầu, dài khoản 35 mm.
Theo các nhà thực vật học cây Saraca asoca có chứa glycoside, flavanoids, tannin và saponin. Trong tờ báo Y học thiên nhiên ra năm 2009 của School of pharmaceutical sciences, Jaipur national university, Jaipur, Rajasthan, India | Marwar Pharmacy College, Jodhpur | G.D. Memorial College of Pharmacy, Jodhpur, có ghi thành phần hóa học của Cây Vô Ưu được trình bày như sau :
Vỏ thân chứa : (-) epicatechin, procyanidin p2,11'-deoxyprocyanidin B, (+) catechin,(24, £)- 24- methyl-cholesta-5-en-3p-ol (22 E, 21£)-24 ethycholesta-5, 22 dien-33-ol, (24£)-24-ethylcholesta-5-en-3 pol, leucopelargonidin-3-O-p-D-glucoside,leucopelargonidin và leucocyanidin.
Hoa chứa : linoleic, palmitic và stearic acids, P-sitosterol, quercetin, kaempferol- 3-0-P-D- glucoside, quercetin- 3-0-P-D-glucoside, apigenin- 7-0-p-D-glucoside, pelargonidin- 3, 5- diglucoside, cyanidin-3, 5-diglucoside, palmitic, stearic, linolenic, linoleic, p và y sitosterols, leucocyanidin và gallic acid.
Hột và vỏ trái chứa : oleic, linoleic, palmitic và stearic acids, catechol, (-) epicatechol và leucocyanidin [2,10,11,12]. 5 loại lignan glycosides, lyoniside, nudiposide, 5-methoxy-9-β- xylopyranosyl-(−)-isolariciresinol, icariside E3, schizandriside, và 3 loại flavonoids, (−)-epicatechin, epiafzelechin-(4β→8)-epicatechin và procyanidin B2, chung với β-sitosterol glucoside, được tách ra từ thân khô [13].
Công dụng của cây Vô ưu trong Y học Ấn Độ :
Vedana sthapana : Dùng chống giảm đau nhức.
Varnya Ashoka : Làm tốt làn da.
Grahi Ashoka: Trợ giúp tiêu hóa và tiêu tiện dễ dàng, nhuận trường.
Trishanashnam Ashoka : Làm giảm bớt cơn khát quá mức.
Daha shamanam Ashoka : Làm giảm bớt cảm giác nóng trong người, hạ nhiệt.
Krimighna Ashoka : Chống các triệu chứng nhiễm độc.
Shothajit Ashoka : Chống các triệu chứng sưng nước.
Vish asrajit Ashoka: Chống các chất độc và các bệnh ô nhiễm trong máu.
Apachijit : Chống viêm hạch bạch huyết.
Asrigdaranashanam: Chống chảy máu quá nhiều trong thời gian kinh nguyệt, làm băng, hay rối loạn kinh nguyệt.
Còn tiếp
Kính bút
TS Huệ Dân



