Ngày còn là học sinh, mỗi khi bà làm cơm cho gia đình thường hay dọn dẹp rất sạch sẽ, không chỉ vậy mà nhà cửa luôn ngăn nắp, mặc dù tuổi bà đã cao. Tôi đi học về chỉ biết an hưởng thành quả ấy mà không biết đằng sau đó chứa đựng một bài học vô giá.
Tôi cho rằng bà quá nghiêm khắc và khó tính khi bắt tôi phải rửa lại cái chén, xếp lại đồ đạc trong nhà nếu chưa làm vừa ý của bà. Mỗi lần như vậy tôi đều cảm thấy như mình bị chê trách là không biết làm gì. Tôi đã nhìn nhận những điều ấy theo một lý do rất tiêu cực để trấn an bản thân mình mỗi khi phải vâng lời như: “Bà thuộc thế hệ người xưa nên khó tính”. Tôi luôn ao ước mình thoát khỏi sự kiểm soát này để làm những điều mình thích. Cuối cùng, điều đó đã thành sự thật.
Tôi vào đại học với sự vui sướng của một người đang có được tự do. “Vào Sài Gòn” - cái cách của những người dân quê như chúng tôi hay gọi, là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của những người muốn đi lập nghiệp nơi xứ khác. Và chính nơi này đã cho tôi nhận ra được giá trị của những điều mà tôi xem là hà khắc ngày xưa.
So với chúng bạn ở cùng phòng, tôi được nhận xét là người kỹ tính, hầu như lúc nào cũng phải ngăn nắp. Thế nhưng những lời nhận xét ấy cũng không mang lại cho tôi một sự khác biệt nào trong suy nghĩ vì có lẽ đó là thói quen giống như ngày còn ở nhà. Nghĩ hè, tôi ghé về nhà bà họ của tôi chơi, ở đó một thời gian, tôi đã nhận được lời khen cho sự gọn gàng và ý tứ của mình. Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy thật hạnh phúc khi mang lại niềm vui cho người khác.
Khi đã kết duyên lành với Phật pháp, tôi luôn cố gắng giữ cho bản thân để tránh việc sát sanh nhưng dường như rất khó khăn vì muỗi, kiến, gián lúc nào cũng xuất hiện ở mọi nơi. Tôi tìm nhiều cách để không giết chúng mà có thể khiến chúng ít xuất hiện hơn, suy nghĩ mãi cũng không tìm ra cách nào phù hợp.
Một hôm nhìn thấy đàn kiến lửa đang diễu binh trên nền nhà, tôi chỉ muốn đập cho chúng một trận nhưng kịp kìm lòng lại. Tôi vội tưới nước vào để chúng chạy đi nhưng không kết quả. Tôi bắt đầu tìm nguyên nhân tại sao lũ kiến lại kéo đến nhiều như thế. Tìm khắp phòng, cuối cùng tôi phát hiện ra một con gián chết, chung quanh là một đám kiến đang bu dày đặc. Tôi dọn con gián ấy đi và lau sạch sẽ, tránh không làm tổn hại đến kiến mặc dù tôi rất ghét chúng. Một lúc sau, kiến bò đi sạch. Rất nhiều lần như vậy, tôi nhận ra một điều rằng nếu mình ăn ở sạch hơn, sẽ làm cho những con vật mà mình không thích ít xuất hiện, kinh nghiệm đó giúp tôi giảm bớt phần nào việc sát sanh.
Tôi thầm cảm ơn những lần “khó tính” của bà. Tôi nghĩ nếu mọi người đều tự ý thức giữ gìn sạch sẽ tất cả mọi nơi mà họ đến, sẽ góp phần mang lại một môi trường an lành. Đây là điều đơn giản nhất mà ai cũng có thể làm được, và điều dễ dàng này cũng là một cách xây dựng thiện căn vốn có trong mỗi con người.
Duyên Ngộ
nguồn (giacngo.vn)
(Kinh Tứ Thập Nhị Chương)
Nào ai cứu được mình đây?
Tự mình điều phục hàng ngày cho chuyên
Thành ra điểm tựa khó tìm. (Pháp Cú 160)
Tâm làm chủ tạo tác
Nếu với ý nhiễm ô (ác)
Nói năng hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như chiếc xe theo chân con vật kéo". (Dhp 1)
Tâm làm chủ tạo tác
Nếu với ý thanh tịnh (thiện)
Nói năng hay hành động
An lạc bườc theo sau
Như bóng không rời hình". (Dhp 2)
Truyện sưu tầm
Vậy chùa được hình thành từ khi nào?
Sau khi đức Phật giác ngộ giảng dạy chánh pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, lúc này mới bắt đầu hình thành ngôi Tam bảo, song chưa cần đến chùa viện, vì phong tục của người xuất gia tu hành tất cả các giáo phái khác đều sống theo kiểu ngày đây mai đó, hoặc ngồi dưới gốc cây tĩnh tu nghiên tầm triết lý v.v...
Nhưng về sau, số lượng người tại gia và xuất gia theo đức Phật để học hỏi tu tập mỗi ngày một đông hơn, có khi lên đến hàng ngàn người, dần dần nảy sinh nhu cầu một nơi bán định cư và cuối cùng phải cần có nơi định cư.
Từ thực tế đó, nhà vua Bình Bà Sa La đã hiến dâng và xây dựng khu Trúc Lâm tịnh xá, để đoàn thể có nơi tu học, sinh hoạt cố định. Chính nơi đây đã trở thành trung tâm tư tưởng học thuật, cơ sở đào tạo đầu tiên lớn nhất đương thời, nhìn từ góc độ giáo dục thì đây là trường đại học đầu tiên đào tạo với quy mô hơn vài ngàn người, tập trung nghiên cứu học hỏi, và thực tập về lĩnh vực triết học và phương pháp thực hành đi đến giải thoát khổ đau.
Dần về sau, đây chính là nơi mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội đến để học hỏi và trao đổi về các môn như triết học, xã hội học, đạo đức học, ngôn ngữ học v.v... quan trọng và hiệu quả nhất là họ đã đạt đến mục đích cuối cùng của con người đó là hạnh phúc, niềm hạnh phúc thực sự.
Khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc:
Hồng Lô tự, Bạch Mã tự, tự viện này có nghĩa là chỉ cho nơi làm việc của các phái đoàn ngoại giao, và sau đó đã chuyển đổi thành trung tâm dịch thuật giảng dạy giao lưu văn hóa giữa Trung Hoa và Ấn Độ, nơi ấy được chính quyền đương đại xây dựng ủng hộ. Các nhà chính trị, thương nhân thì học hỏi ngoại ngữ văn hóa v.v... để tìm cách bang giao liên kết quyền lực chống lại giặc phương Bắc của Trung Hoa, thương gia thì học ngôn ngữ để tiện việc thương mại trao đổi hàng hóa.
Còn chùa tên gọi quen thuộc ở Việt Nam buổi ban đầu cũng là nơi đào tạo giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, người tu sĩ trở thành thầy giáo dạy ngoại ngữ, Việt ngữ, văn hóa đạo đức cho nhân dân, vì nơi cửa Khổng sân Trình thường chỉ giành cho tầng lớp quý tộc. N
hững con em đó đã lớn lên với kiến thức trong chùa, vì chùa không có phân biệt giàu nghèo nam nữ. Với nét đặc thù của chùa viện là không ai có quyền được sở hữu, thầy trụ trì hay người xuất gia chỉ có quyền điều hành mọi hoạt động trong chùa, không có quyền chuyển nhượng tùy ý, nên cơ sở này không bị mai một với thời gian và ít bị các thế lực chính trị gây ảnh hưởng.
Chùa trở thành nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, chốn thanh tịnh uy nghiêm làm nơi quay về cho tất cả mọi tầng lớp của xã hội.
Đi qua bao thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa là bảo tàng chứa đựng tất cả kỷ vật của thời gian, trung tâm văn hóa giáo dục, nơi lưu trữ dấu vết của phát triển của nhân loại qua các công trình nghệ thuật kiến trúc điêu khắc, bên cạnh đó chùa còn là nơi bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt chùa được ví như thư viện gìn giữ Kinh điển, sách vở, bia ký, hoành phi, đối liễn v.v.. của nhiều đời.
Làm sao để có thể phát huy hết giá trị tồn tại miên viễn này, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào những hành động cụ thể và cách suy nghĩ của mỗi con người của chúng ta.
Để lòng ai, cửa Từ Bi khép hở
Tiếng kinh cầu, vang vọng đến vô biên.
Hạc đá
- rồng đá
- rồng đá
Nghê được đục theo mô tip hoa văn thời Lê
Nghê được làm theo mô tip thời Nguyễn
Tứ Linh hoa văn thời Nguyễn
Hổ phù hoa văn thời Nguyễn
Chim Phượng hoa văn thời Nguyễn
Hổ Phù hoa văn nóc nhà thời Nguyễn
Tứ linh hoa văn trên cốn mê đình chùa hoa văn thời Nguyễn
Chim phượng trên cốn mê hoa văn thời Nguyễn
Chim Phượng trên Long Đình cỗ kiệu hoa văn thời Lê
- Đó là một số hình ảnh Liên Hoa Nguyễn Ngọc Tú xin giới thiệu với bạn đọc là những hoa văn họa tiết thường được trang trí trong các đình chùa miền Bắc Việt Nam nước ta






